Giảm lãi suất là sự chia sẻ khó khăn với doanh nghiệp
Đăng ngày: 12/8/12Việc các NHTM điều chỉnh lãi suất của các khoản cho vay trước đây hiện còn dư nợ xuống mức tối đa 15%/năm đã có sự chia sẻ khó khăn với khách hàng nói chung, khó khăn của doanh nghiệp nói riêng, hy sinh một phần lợi ích của hệ thống ngân hàng vì nền kinh tế.
Theo chỉ đạo của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), từ ngày 15/7/2012, các ngân hàng thương mại (NHTM) trên cơ sở khả năng tài chính xem xét điều chỉnh giảm lãi suất tiền vay ngắn hạn Đồng Việt Nam về mức không quá 15%/năm đối với khách hàng đang dư nợ vốn vay trong các hợp đồng tín dụng đã ký trước đây. Trước đó cũng theo chỉ đạo của NHNN, lãi suất cho vay nội tệ 4 lĩnh vực ưu tiên, gồm: nông nghiệp - nông thôn, sản xuất hàng xuất khẩu, công nghiệp phụ trợ, doanh nghiệp nhỏ và vừa còn 13%. Tuy nhiên, một số khách hàng cũng như một bộ phận dư luận vẫn cho rằng các mức lãi suất đó vẫn còn cao so với những khó khăn của nền kinh tế hiện nay nói chung cũng như tình hình sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp nói riêng. Trên một số diễn đàn xuất hiện không ít ý kiến đề xuất, cần phải giảm lãi tiền vay ngắn hạn xuống 10 - 11%/năm, trung dài hạn xuống 12%/năm. Thậm chí có ý kiến đề suất lãi suất vốn vay ngắn hạn giảm xuống 8-9%/năm. Trong bối cảnh diễn biến kinh tế vĩ mô hiện nay, việc kiềm chế lạm phát vẫn là giải pháp ưu tiên trong điều hành kinh tế vĩ mô, vậy đề xuất nói trên có trở thành hiện thực hay không? Bài viết xin trao đổi một số suy nghĩ về vấn đề này!
Trước hết, để có vốn cho vay thì phải huy động được vốn trong nền kinh tế với lãi suất hợp lý, tức là phải thực dương, đảm bảo quyền lợi người gửi tiền. Điều đó có nghĩa là lãi suất tiền gửi ít ra phải bằng và cao hơn lạm phát. Trong một số tháng gần đây lạm phát đã được kiềm chế, thậm chí đã xuất hiện tình trạng giảm phát, song nhìn trong cả 12 tháng qua thì vẫn còn cao. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 6/2012 so với tháng 5/2012 âm 0,26%; đến tháng 7/2012 so với tháng 6/2012 tiếp tục âm 0,29%. Nhưng tính bình quân 7 tháng đầu năm nay so với cùng kỳ năm 2011, CPI vẫn tăng tới 11,2%, cao hơn so với trần lãi suất tiền gửi nội tệ tối đa 9%/năm. Như vậy, trần lãi suất 9%/năm hiện nay chưa thực sự khuyến khích người gửi tiền, hay chưa” thực dương”. Nếu giảm lãi suất cho vay xuống 10 - 12%/năm thì lãi suất tiền gửi chỉ là 5-6%/năm, với mức lãi suất này, rõ ràng là các ngân hàng không thể huy động được vốn trong nền kinh tế.
Thứ hai là thu hẹp chênh lệch giữa lãi suất cho vay so với lãi suất huy động vốn, tức là giảm thu nhập và giảm chi phí hoạt động tín dụng ngân hàng, vì một số ý kiến cho rằng, với định hướng lãi suất cho vay 15%/năm, trong khi lãi tiền gửi chỉ 9%/năm thì các ngân hàng thương mại đang có khoản chênh lệch lãi suất tới 6%/năm, trong khi nhiều doanh nghiệp đã phá sản và đang có nguy cơ ngừng hoạt động, hàng tồn kho cao. Vậy thực chất con số đó như thế nào?
Nhìn chênh lệch con số học đơn thuần về lãi suất công bố thì rõ ràng có mức 6%/năm, nhưng trong thực tế hoạt động tín dụng NHTM, không phải cứ huy động được 100 đồng là cho vay ra cả 100 đồng, và không phải tất cả khoản cho vay ngân hàng đều thu được đủ tiền lãi. Chúng ta giả thiết, trong số 100 đồng mà NHTM huy động kỳ hạn dưới 12 tháng, lãi suất 9%/năm thì phải nộp dự trữ bắt buộc VND kỳ hạn này phải là 3%; dự trữ thanh toán khoảng 10%, còn 87%, hay chỉ còn 87 đồng mới có thể cho vay ra được. Đây là về mặt lý thuyết, còn thực tế thì khó mà đảm bảo được tỷ lệ 82 - 84% chứ chưa nói đến mức 87%. Song cứ tạm lấy mức 87% thì như vậy, lãi suất thực của một đồng vốn huy động để cho vay ra chưa tính các chi phí khác là: 9%/87% = 10,34% (1). Như vậy 15% - 10,34% = 4,66%, chứ lấy đâu ra 6%!. Đành rằng, nếu thu hút được tiền gửi không kỳ hạn dưới 1 tháng với lãi suất huy động tối đa chỉ có 6%/năm cho loại này, nhưng tỷ lệ sử dụng vốn không phải là 87% như giả thiết trên mà thực tế có khi chỉ 30-40% vì loại tiền gửi thanh toán này rất biến động do khách hàng rút ra bất kỳ lúc nào, thậm chí là cả ngày nghỉ và giờ nghỉ đối với các chủ thẻ ATM. Đồng thời tỷ trọng tiền gửi không kỳ hạn giữa các NHTM rất khác nhau. Cũng về lãi suất tiền gửi, nếu huy động trên 12 tháng thì mức trả cho người gửi lên tới 11% - 13%/năm, nên rõ ràng chi phí lãi suất đầu vào đã tiệm cận lãi suất cho vay thậm chí còn vượt cả mức 15%/năm.
Về chi phí hoạt động của NHTM, gồm rất nhiều khoản khác nhau như: khấu hao tài sản, thiết kế sản phẩm tiền gửi, thuê văn phòng hay trụ sở giao dịch, đường truyền mạng, thông tin liên lạc, tiếp thị, vận chuyển tiền, an ninh bảo vệ, tiền điện nước, chi phí tiền lương và phụ cấp hay các chi phí khác theo lương cho nguồn nhân lực, chi phí văn phòng phẩm và ấn chỉ... đều phải tính vào giá vốn và được phân bổ vào trong đó. Ước tính, các NHTM dù có thực hiện triệt để tiết kiệm đến mức nào thì khoản chi phí này cũng tương đương 1% đối với mỗi đồng vốn huy động được.
Tóm lại, chi phí thực tế trên mỗi đồng vốn mà NHTM huy động được lên tới 11,34%/năm và so với lãi suất cho vay theo chỉ đạo NHNN là 15%/năm thì phần chênh lệch thực tế giữa huy động và cho vay mà NHTM giữ lại, tất nhiên chưa tính thuế thu nhập doanh nghiệp là 3,66% chứ không phải 6% như nhiều người vẫn đề cập khi nhìn chênh lệch con số học đơn thuần bên ngoài. Nhưng nếu như tỷ trọng các khoản cho vay với lãi suất dưới 15%/năm càng lớn thì chênh lệch bình quân càng thu hẹp lại.
Về góc độ cho vay, như đề cập NHTM không thể thu đủ 100 % lãi suất của khoản vay trong kỳ, do phát sinh nợ xấu, do mất vốn, phải trích lập dự phòng rủi ro. Tạm thời chưa tính các khoản trích lập dự phòng rủi ro cụ thể theo từng nhóm nợ và phụ thuộc vào thực trạng tài sản đảm bảo tiền vay, chỉ tính khoản NHTM phải chi là trích lập dự phòng chung 0,75% trên tổng dư nợ thì 15% - ( 11,34%+0,75%) = 2,91%. Như vậy tính ra chênh lệch chỉ còn 2,91%, càng có khoảng cách xa so với con số 6% được nêu. So với các loại hình đầu tư khác, tỷ suất sinh lời trên một đồng vốn/năm chưa tính thuế thu nhập doanh nghiệp mà chỉ ở mức 2,91% là quá thấp, còn nếu tính đủ tỷ lệ trích dự phòng rủi ro cụ thể thì mức chênh lệch còn thấp hơn.
Phân tích thêm về mặt chi phí, trong thực tế, chúng ta thấy rằng các khoản tiền gửi có kỳ hạn 3 - 9 tháng mà NHTM huy động trước đây của khách hàng với lãi suất 12% - 13% - 14%/năm thì NHTM không thể điều chỉnh xuống mức lãi suất 9% theo qui định mới của NHNN. Bởi vì đây là lãi suất được ghi trong sổ tiết kiệm. NHTM phải trả lãi cho các khoản tiền gửi đó như đã cam kết ghi trong sổ tiền gửi.
Như vậy có thể thấy, việc các NHTM điều chỉnh lãi suất của các khoản cho vay trước đây hiện còn dư nợ xuống mức tối đa 15%/năm đã có sự chia sẻ khó khăn với khách hàng nói chung, khó khăn của doanh nghiệp nói riêng, hy sinh một phần lợi ích của hệ thống ngân hàng vì nền kinh tế. Trên thực tế, thu nhập của nhiều NHTM đã giảm sút. Thậm chí, để tiết kiệm chi phí, một số NHTM đã giảm một số khoản chi cho cán bộ nhân viên, thương lượng giảm chi phí thuê trụ sở, phòng giao dịch, tạm thời cắt giảm một số chi phí hành chính khác.
Từ Khóa: PT, Vay, Cho Vay, Vốn, Kinh Tế, Hợp Lý, Quyền Lợi,


